TÂM TƯỚNG NGƯỜI XUẤT GIA.
1. Pháp học, pháp hành căn bản
đầu tiên của Đức thế tôn là Tứ Thánh đế, đây là bài pháp Đức Phật chuyển pháp luân tại thế gian. Nhưng trước khi nói Tứ Thánh đế, Đức Phật kêu gọi năm anh em Kiều-trần-như hãy từ bỏ hai cực đoan: khổ hạnh ép xác, buông lung trong các dục. Nếu sống với hai cực đoan này thì không thể đi tới đời sống cao thượng, đời sống của bậc thánh. Sau khi kêu gọi từ bỏ hai cực đoan, Đức Phật chỉ ra con đường trung đạo, không thiên lệch, đứng vững ở trung điểm cũng chính là Bát Chánh đạo. Và bảo năm anh em Kiều-trần-như gọi mình là Như Lai, Đức Phật thuyết pháp với tư cách là Như Lai chứ không còn là Sa-môn Go-ta-ma. Ba lần chuyển pháp luân mà Đức Phật nói bấy giờ là thị chuyển (giới thiệu, chỉ rõ vấn đề), chứng chuyển (Pháp này tôi đã tu, đã chứng nghiệm và được lợi ích) và khuyến chuyển (quý vị nên hành và có thể đạt được như tôi).
Qua đây, ta có thể ứng dụng trong quá trình hoằng pháp cũng như sự tu học của chúng ta. Đức Phật đi tới đâu cũng bắt đầu thời pháp bằng cách giới thiệu vấn đề, rồi nói rằng vấn đề này tôi đã thực hành, đã được lợi ích và khuyên mọi người nên làm theo, làm như vậy đem lại hiệu quả rất cao. Do đó, Phật giáo không áp đặt bất cứ thứ gì cho người khác, chỉ là chỉ bày ra cái mà mình đã có, điều này có lợi ích chúng ta nên làm, điều này không lợi ích, điều này mang đến đau khổ chúng ta không nên làm.
Trong Tứ Thánh tứ, Đức Phập nói quả trước, nhân sau. Vì cái nhân rất sâu xa, nó tiềm ẩn ở bên trong chúng sanh không thấy được. Quả chính là khổ, khổ là điều chân thực của thế gian chỉ bậc thánh mới thấy rõ, chúng sanh chìm đắm trong nhiều nổi khổ, tám khổ cơ bản phơi bày khắp nơi nên sẽ dễ dàng thấy khi được đề cập đến. Tập là nguyên nhân của khổ nó chính là tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, nó được huân tập nhiều đời nhiều kiếp rất là sâu dày. Người tu thì ly dục, sống từ bi học Phật diệt những nhân khổ đau, gieo nhân an lành, giải thoát.
2. Sáu chất liệu của người xuất gia
Chất liệu thứ nhất: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương” bước chân của người xuất gia là bước tới phương trời siêu việt, phương trời rộng lớn. Tuy nhiên trong kinh Đức Phật nói có 4 hạng xuất gia xem chúng ta đang xuất gia như thế nào?
Hạng người thứ nhất, thân xuất gia tâm cũng xuất gia. Những người như thế này là có thiện căn lại thuận duyên được xuất gia làm tu sĩ, thiện căn đó là tâm hướng tới giải thoát, tâm cứu độ chúng sanh. Hạng người thứ hai, tâm xuất gia thân chưa xuất gia, những người này còn nhiều vướng bận thế gian mà chưa thể sống đời tu sĩ dù tâm họ đã xa lìa dục nhiễm. Hạng thứ ba, thân xuất gia mà tâm không xuất gia, những người này dù ở chùa, mang tướng tăng mà không tu tập giải thoát. Hạng thứ tư, tâm không xuất gia và thân cũng không xuất gia, những người này biết đến Tam bảo, ở chùa có người lợi ích hộ trì Tam bảo, cũng có người tạo nghiệp tai tiếng cho đạo Phật. Chắc chắn rằng trường hợp xuất gia cả thân và tâm là quan trọng nhất, bởi vì chỉ có những người này mới có thể đi lên phương trời cao rộng được, mới tiến đến chổ siêu việt được.
Chất liệu thứ hai: “tâm hình dị tục”. Tâm chí và hình thức đều khác với người đời, thoát ra tâm tướng chứa đầy phiền não, tham lam, dục vọng. Xuất gia là trở thành người sống lợi mình, lợi người còn có thể quên mình cho mọi người, không còn tâm ích kỷ mà quên mình cho chúng sanh. Phong thái của người tu khác với đời trong đi, đứng, nằm ngồi, cử chỉ, nói năng, ăn, mặc v.v. phải biết ứng lượng khí, giữ gìn oai nghi tế hạnh. Các căn giữ cho thanh tịnh không phan theo cảnh duyên mà lây uế nhiễm, nghĩ gì cho ai thì nghĩ điều tốt của họ làm vậy tâm sân sẽ lắng xuống, biết cái xấu của người khác để chiếu vào bản thân mình mà ngăn ngừa.
Đôi khi mình chỉ hiện diện ở đó, người ta liền nhận mình là người xuất gia, có lúc mình nói mình là người xuất gia mà không ai tin điều đó. Tỳ-kheo là người khất sĩ hạ mình mà đi xin ăn, xin ăn nhưng không mở miệng xin mà khất thực nuôi sống thân mạng cũng là làm ruộng phước cho quần chúng, nên tùy tâm mà cúng dường. Vị tỳ-kheo đi khất thực là biết khiêm cung, sống khiêm cung thì ma nó sợ. Luôn luôn giữ niệm xả ly, niệm thiểu dục tri túc trong việc thực hành pháp khất thực. Bây giờ tăng chúng không khất thực được, vì pháp khất thực này bị người ta lợi dụng quá nhiều, tạo nhiều hình ảnh tiêu cực cho Phật giáo. Vị Tỳ-kheo thực hành thanh tịnh các giới luật nghi, thanh tịnh giải thoát luật nghi, thanh tịnh về bàn luật nghi, thanh tịnh về niệm luật nghi nên khác người đời.
Chất liệu thứ ba: “Thiệu long thánh chủng”. Khi thọ tỳ-kheo giới trở thành thành viên chính thức của tăng đoàn, trở thành con người của trăm họ, của bốn loài chúng sanh. Người xuất gia phải tiếp nối dòng thánh, tiếp nối hai thánh chũng là từ bi và trí tuệ. Từ bi là có thể làm thay đổi nghiệp oán giữa mình với lục đạo chúng sinh, ăn thịt chúng sanh thì tâm từ bi của mình bị thương tổn, đưa đến nội kết oán thù với chúng sanh. Đức Phật cho ăn tam tịnh nhục nhưng bây giờ làm gì phải ăn tam tịnh nhục, khi điều kiện khá đầy đủ, không thiếu đói gì. Ăn thì sẽ phạm. Đức thế tôn có mặt tại cuộc đời là để làm bốn lý do là hàn gắn lại những gì đã bị đổ vở, dựng đứng lại những gì đã bị siêu vẹo, bật ngọn đèn cho mọi người thấy và chỉ đường cho mọi người đi. Ngài nói về ly tham, ly sân, ly si, ly kiêu mạn được lợi ích như thế nào, vì thế gian này bị siêu vẹo quá nhiều tham lam, oán thù và khổ đau. Chúng sanh đi trong đêm dài sanh tử không thấy đường ra cần có người bật ngọn đèn cho thấy và cần người chỉ đường cho đi. Đệ tử Phật cũng vậy, gia nhập dòng dõi bực thánh chúng ta phải chiêm nghiệm lời Phật dạy, quán xét hạnh Phật làm mà giúp đỡ lợi lạc cho thế gian.
Chúng ta phải gần gũi quần chúng, giới thiệu hình ảnh đẹp của người xuất gia cho quần chúng biết, gieo hạt giống lành cho quần chúng đối với Tam bảo. Khi chúng sanh nào đã có hạt giống Phật, thì sớm muộn gì rồi cũng sẽ thành Phật.NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.21/3/2023.
Đạo hạnh của người xuất gia . Khi nói đến văn hóa của Đạo Phật, chúng ta nghĩ ngay đến đức Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Ngài đã khơi dòng đầu nguồn cho văn hóa Phật Giáo tại Ấn Độ, để từ đó dòng chảy Phật giáo ngày càng mở rộng và thấm đẫm khắp năm châu. Một trong những nét đẹp văn hóa của Ngài thường được nhân loại ngợi ca: đó là đời sống phạm hạnh. Đời sống phạm hạnh của Ngài được xông ướp bằng hương thơm của giới, định và tuệ. Chính vì vậy, sức cảm hóa của Ngài đối với muôn loài thật diệu kỳ chưa từng có. Như Ngài đã dùng khả năng cảm hóa để cảm hoá năm anh em Kiều Trần Như, để sau đó trở thành năm vị đệ tử Tỳ kheo đầu tiên của Ngài. Nguồn đạo hạnh thanh khiết của Đức Phật đã không ngừng lan tỏa và tưới mát cho hàng đệ tử, từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác…, trở thành một dòng sông đạo hạnh chảy mãi trong đời sống Tăng đoàn. Đức Phật đã dùng khả năng cảm hóa để cảm hoá năm anh em Kiều Trần Như, để sau đó trở thành năm vị đệ tử Tỳ kheo đầu tiên c...
Comments
Post a Comment